5 chỉ số kinh tế nhà đầu tư Bất động sản nên nắm rõ

Bất động sản gắn liền với kinh tế. Chính vì vậy, việc nắm vững những kiến thức kinh tế cơ bản là điều mà bất cứ môi giới nào cũng nên trang bị cho mình. GDP, CPI, FDI hay lạm phát tưởng chừng là những thuật ngữ quen thuộc, thế nhưng, hiểu đúng về chúng lại là điều không phải ai cũng làm được. Bài viết dưới đây sẽ làm rõ 5 thuật ngữ kinh tế thường được sử dụng nhất.

1. GDP: tổng sản phẩm quốc nội

Tổng sản phẩm quốc nội thường được viết tắt ngay cả trong tiết Việt là GDP, từ cụm từ đầy đủ tiếng Anh tương đương nghĩa: Gross Domestic Product, là một con số thống kê cho biết tổng mức thu nhập của toàn nền kinh tế quốc dân và tổng mức chi tiêu trên đầu ra của hàng hóa và dịch vụ. GDP là số đo về giá trị của hoạt động kinh tế quốc gia. Nói cách khác, GDP mô tả sự vận hành trơn tru của bộ máy kinh tế một đất nước. Các quốc gia có nền kinh tế và khoa học kinh tế phát triển như Hoa Kỳ và Tây Âu thường tính GDP cho từng quý. (Ví dụ, cơ quan chuyên trách việc này của Hoa Kỳ là Bureau of Economic Analysis – Văn phòng Phân tích Kinh tế; Cơ quan trực thuộc Bộ Thương Mại Hoa Kỳ, US Department of Commerce.)

Chỉ số CDP đóng vai trò cực kì quan trọng đến xu hướng đầu tư BĐS

Hầu hết hàng hóa và dịch vụ đều có thể có thị giá để tính mức đóng góp vào GDP. Nhưng một số khác thì không mấy khi được giao dịch trên thị trường. Người ta buộc phải dùng một loại giá trị quy đổi để thống kê. Điều này đặc biệt quan trọng đối với bất động sản nhà ở. Một người thuê nhà trả tiền thuê, và tạo thu nhập cho người sở hữu nhà. Tiền thuê đó là một phần của GDP. Nhưng nhiều người sống trong nhà của mình. Dù người ta có thể không trả tiền thuê, nhưng vẫn có dịch vụ tự cung cấp về nhà ở, tương đương với một mức tiền thuê người khác phải trả nào đó. GDP tính cả “tiền thuê nhà” mà người sở hữu nhà “tự trả” cho mình.

2. FDI: đầu tư trực tiếp nước ngoài

Đầu tư trực tiếp nước ngoài là hình thức nhà đầu tư (cá nhân hoặc tổ chức) để đạt được quyền kiểm soát doanh nghiệp ở nước ngoài. Hoạt động FDI tạo ra công ty mẹ và công ty con từ đó hình thành ra tập đoàn xuyên quốc gia.

Để được gọi là đầu tư trực tiếp nước ngoài, vụ đầu tư phải đủ lớn để nắm quyền kiểm soát công ty ở nước ngoài. Liên hợp quốc xác định rằng để làm được việc đó, công ty mẹ phải sở hữu 10% hoặc hơn số cổ phiếu thường hoặc quyền biểu quyết của công ty được đầu tư. Nếu ít hơn số đó thì gọi là đầu tư gián tiếp.

Nếu phân chia theo mục đích đầu tư thì FDI được chia làm 4 loại chính:

·       Đầu tư mới – Greenfield Investment : nhằm xây dựng nhà máy mới hoặc mở rộng nhà máy/dây chuyền hiện có.

·       Mua lại và sáp nhập – Merger & Acquisition : Công ty đầu tư mua luôn tài sản của doanh nghiệp nước ngoài.

·       Đầu tư theo chiều ngang – Horizontal FDI: Đầu tư trong cùng ngành công nghiệp

·       Đầu tư theo chiều dọc – Vertical FDI: Đầu tư vào công ty chuyên cung cấp đầu vào sản xuất, hoặc chuyên bán đầu ra cho sản phẩm

Phân loại theo mục tiêu

·       FDI nhằm tìm kiếm nguồn lực – Resource-seeking: Đầu tư nhằm đạt được dây chuyền sản xuất và các nguồn lực khác như lao động rẻ hoặc tài nguyên thiên nhiên, mà những nguồn lực này không có ở được đi đầu tư. Đây là FDI thường đầu tư vào các nước đang phát triển như tài nguyên dầu mỏ ở Trung Đông hay vàng, kim cương ở Châu Phi, lao động rẻ ở Đông Nam Á.

·       FDI tìm kiếm thị trường Market-seeking: Đầu tư nhằm thâm nhập thị trường mới hoặc duy trì thị trường hiện có.

·       Tìm kiếm hiệu quả – Effficiency-seeking: Đầu tư nhằm tăng cường hiệu quả bằng việc tận dụng lợi thế của tính kinh tế theo quy mô hay phạm vi, hoặc cả hai.

·       Tìm kiếm tài sản chiến lược – Strategic-Asset-Seeking: Đầu tư nhằm ngăn chặn việc bị mất nguồn lực vào tay đối thủ cạnh tranh. Ví dụ, các công ty sản xuất và khai thác dầu mỏ có thể không cần trữ lượng dầu đó ở thời điểm hiện tại, nhưng vẫn phải tìm cách bảo vệ nó để không rơi vào tay đối thủ cạnh tranh.

3. CPI: chỉ số giá tiêu dùng

Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) đo lường thay đổi chi phí của một giỏ hàng hoá và dịch vụ cố định, thường gồm các lĩnh vực nhà ở, điện, thực phẩm và giao thông. CPI thường được dùng như dấu hiệu đo lường lạm phát và tính hàng tháng.

Kể từ tháng 5/2006, Chỉ số giá tiêu dùng do Tổng cục Thống kê công bố được tính theo phương án đã cập nhật và dùng cho giai đoạn 2006-2010. Phương án mới có một số cải tiến:

1. Năm gốc so sánh của Chỉ số giá tiêu dùng trong giai đoạn 2006-2010 là năm 2005 (thay cho gốc so sánh 2000).

2. Danh mục hàng hoá, dịch vụ (còn gọi là “rổ hàng hoá”) điều tra giá để tính chỉ số đã được cập nhật, gồm 494 loại hàng hoá, dịch vụ phổ biến tiêu dùng của cá nhân và hộ gia đình trong giai đoạn hiện tại. So với “rổ hàng hoá” thời kỳ 2000-2005, số lượng các loại hàng hoá dịch vụ tăng gần 100 mặt hàng, trong đó bổ sung thêm nhiều loại hàng hoá dịch vụ cao cấp, đã được tiêu dùng nhiều như điện thoại di động, máy xay sinh tố, lò vi sóng, phí truyền hình cáp, dịch vụ du lịch nước ngoài….

3. Quyền số để tính chỉ số đã được cập nhật trên cở sở kết quả điều tra Khảo sát mức sống dân cư 2004 và điều tra bổ sung tại 10 tỉnh, thành phố năm 2005 của Tổng cục Thống kê.

Đây cũng là 1 chỉ số quan trọng đối với cả môi giới BĐS và Nhà đầu tư BDS. Vì chỉ khi chỉ số tiêu dùng có sự đột phá, nhu cầu cuộc sống của người dân nâng cao thì họ mới tìm đến những cơ hội nâng tầm cuộc sống. Có thể là mua nhà, đi du lịch nghỉ dưỡng, thậm chí là đầu tư BĐS cao cấp.

4. Inflation rate: Chỉ số lạm phát

Tình hình kinh tế với đặc điểm là sự gia tăng trong giá cả và tiền lương và sức mua giảm xuống. Lạm phát thường được đo lường bằng những thay đổi trong Chỉ số giá tiêu dùng (CPI). Kết quả là sức mua bị giảm xuống, và thường lãi suất của các khoản tiết kiệm thì thấp, vì người hưởng lương phải sử dụng nhiều tiền cho tiêu dùng, và tiết kiệm dài hạn ít hơn. Lạm phát là một hiện tượng của tiền tệ. Nó xảy ra khi có quá nhiều tiền trong lưu thông tương quan với sản xuất hàng hóa và dịch vụ thực tế. Chính sách Tiền tệ Cục Dự trữ Liên bang là phương tiện duy nhất để kiểm soát lạm phát, mặc dù chính sách tài khóa có thể cũng giúp kiểm soát lạm phát.

5. Exchange rate: tỉ giá hối đoái

Tỷ giá hối đoái (thường được gọi tắt là tỷ giá) là tỷ lệ trao đổi giữa hai đồng tiền của hai nước. Cũng có thể gọi tỷ giá hối đoái là giá của một đồng tiền này tính bằng một đồng tiền (quốc gia) khác.

Tỷ giá hối đoái có thể được quy định bởi thị trường trong chế độ tỷ giá hối đoái thả nổi, và được gọi là tỷ giá thị trường. Tỷ giá hối đoái cũng có thể được quy định bởi các cơ quan hữu trách trong chế độ tỷ giá hối đoái cố định. Ở nhiều nước, cả thị trường lẫn cơ quan hữu trách cùng tham gia quy định tỷ giá hối đoái.

Ở Việt Nam, ngay cả tỷ giá hối đoái chính thức cũng có vài loại: tỷ giá bình quân liên ngân hàng, tỷ giá tính thuế xuất nhập khẩu, tỷ giá giao dịch của ngân hàng thương mại, và tỷ giá hạch toán. Tỷ giá mua vào và bán ra ngoại tệ niêm yết tại một số ngân hàng để phục vụ khách đổi tiền là tỷ giá giao dịch của ngân hàng thương mại có tính thêm phí dịch vụ. Còn tỷ giá đổi tiền tại các cửa hàng kinh doanh vàng bạc ngoại tệ của tư nhân hay khi đổi tiền trong nhân dân chính là tỷ giá hối đoái song song.

Tỷ giá hối đoái đóng vai trò chính trong thương mại quốc tế, nó cho phép chúng ta so sánh giá cả của các hàng hóa và dịch vụ sản xuất trên các nước khác nhau. Giá hàng xuất khẩu của một nước sẽ được tính theo giá của nước nhập khẩu nếu biết tỷ giá hối đoái giữa đồng tiền của hai nước.

TÌM HIỂU THÊM VỀ ĐẦU TƯ BĐS 

Tin khác

Share on facebook
Facebook
Share on google
Google+
Share on twitter
Twitter
Share on linkedin
LinkedIn